Jim và Monica Murphy là cha mẹ tận tâm. Trong hành trình nuôi dưỡng và giáo dục con cái, ông bà đã dạy các con theo chính đức tin mà ông bà trân quý. Họ giúp các con nhận ra hồng ân kỳ diệu khi Thiên Chúa dựng nên mỗi người và ban cho họ được thuộc về nhau trong mái ấm gia đình. Các con được dạy biết trân trọng căn tính của mình với tư cách là thành viên của gia tộc Murphy, đồng thời biết quý mến và nâng đỡ lẫn nhau. Nhờ đó, các con học được cách kính trọng và yêu thương nhau bằng một tình cảm chân thành. Kết quả là một gia đình sống động, hạnh phúc, và dù phải trải qua những lúc khó khăn, gia đình ấy vẫn luôn là một chứng tá sống động cho bạn bè và những người chung quanh.

Theo năm tháng, những người con trong gia đình Murphy dần trưởng thành, rời mái ấm gia đình và bắt đầu xây dựng gia đình riêng của mình. Tuy nhiên, dù đi xa tới đâu, tất cả họ đều háo hức tham dự những ngày họp mặt đều đặn vào mùa Giáng Sinh và Phục Sinh, cũng như kỳ nghỉ hè trên núi của đại gia đình. Tất cả các con và các cháu đều trông mong quy tụ quanh Jim và Monica, những người vốn là điểm tựa và là ngọn đèn soi dẫn cho cuộc sống của họ.
Tuy nhiên, có một năm, trong kỳ nghỉ hè truyền thống, Mike – một trong các con trai của gia đình Murphy đã cáo buộc anh trai mình là Pat về việc làm sai trái. Đáp lại, Pat đã khơi lên những cáo buộc chống lại Mike mà chưa bao giờ được giải quyết thỏa đáng. Những người con khác cũng tham gia vào cuộc tranh cãi, đứng về phe của người mình ủng hộ. Cuộc chiến lên cao trào đến độ cả Mike và Pat đều bỏ cuộc họp mặt về sớm. Họ giận dữ với nhau đến mức không chịu ở chung dưới một mái nhà, và còn cấm các con mình gặp gỡ các anh chị em họ.
Cả hai người đàn ông đều đã cố gắng tiếp tục nuôi dạy con cái họ với cảm nhận đặc biệt về gia đình mà cha mẹ họ đã dạy họ, nhưng sự cay đắng giữa họ là một rào cản nghiêm trọng đến nỗi thậm chí con cái họ cũng cảm nhận điều đó. Jim và Monica đã rất đau lòng, nhưng những lời khẩn cầu hòa giải của họ dường như không được đón nhận.
Gia đình của Thiên Chúa. Câu chuyện này – mặc dù không phải là một sự tương đồng hoàn hảo – có thể giúp chúng ta hiểu phần nào, tình trạng của Giáo Hội, gia đình của Thiên Chúa ngày nay. Theo lịch sử, Giáo Hội đã chịu thảm kịch chia rẽ khi các anh chị em trong Chúa Kitô đã tự chia cách nhau về chính trị, đạo đức và những vấn đề về giáo huấn. Lịch sử đầy rẫy những câu chuyện về các Kitô hữu làm tổn thương nhau – đôi khi thậm chí giết hại lẫn nhau – vì những chia rẽ này. Một gia đình chia rẽ như thế chắc hẳn làm đau lòng Thiên Chúa, Đấng nhìn nhận và yêu thương tất cả con cái Người như nhau.
Những sự chia rẽ này cũng là một minh chứng cho thế giới về nỗi đau và sự cay đắng, hơn là tình yêu thương và sự trân trọng. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và các Giáo Phụ của Công đồng Vaticanô II đã thể hiện cơn sốc về sự chia rẽ như thế khi các ngài viết: “Thực sự tất cả đều xưng mình là môn đệ của Chúa, nhưng họ suy nghĩ khác và đi theo những con đường khác nhau, như thể chính Chúa Kitô đã bị chia năm xẻ bảy. Chắc chắn, sự chia rẽ như thể sẽ đối nghịch công khai với ý muốn của Chúa Kitô, làm gương mù cho thế giới và làm thiệt hại đến mục đích thánh thiện nhất, là việc rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Sắc lệnh về Đại Kết, số 1). Sự chia rẽ không phải lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho dân Người.
Yêu Mến Giáo Hội và Anh Em chúng ta. Trong khi nhu cầu về sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu là rất lớn, chúng ta cũng nên nhớ và trân trọng, quý mến tất cả những gì mà truyền thống Công Giáo mang lại cho chúng ta. Nơi Bí tích Thánh Thể, chúng ta quy tụ để tôn thờ Chúa Giêsu như một thân mình và được lấp đầy bằng sự hiện diện của Người. Nơi Đức Maria, đấng mà chúng ta tôn kính cách đặc biệt, chúng ta không chỉ có mẫu gương cao nhất về nhân đức Kitô giáo, nhưng chúng ta còn có một người mẹ chăm sóc chúng ta. Nơi Đức Thánh Cha và các Đức Giám mục hiệp nhất với ngài, chúng ta có các đấng kế vị các tông đồ, các vị mục tử được Chúa Thánh Thần ủy thác để hướng dẫn chúng ta đi vào sâu hơn trong tình yêu đối với Thiên Chúa và dân Người. Thực vậy, các Giáo Phụ của Công đồng đã dạy: “Chỉ nhờ Giáo Hội Công Giáo của Chúa Kitô, là sự trợ giúp phổ quát hướng tới ơn cứu độ, mà sự trọn vẹn của các phương tiện ơn cứu độ mới có thể đạt được” (Sắc lệnh về Đại Kết, số 3). Chính “sự trọn vẹn của các phương tiện cứu độ” này mà tất cả các giáo hội Kitô giáo và các cộng đoàn giáo hội đều tham dự vào với những mức độ khác nhau.
Mặc dù chúng ta phải nhận ra những sự khác nhau về giáo thuyết giữa chúng ta và các Kitô hữu khác, nhưng tình yêu dành cho đức tin của chúng ta không bao giờ được làm chúng ta mù lòa trước lệnh truyền yêu thương nhau của Chúa Giêsu (x. Ga 15,12). Thiên Chúa mong muốn rằng chúng ta duy trì công việc của Người nơi các anh chị em của các giáo hội và các cộng đoàn Kitô giáo khác. Họ cũng là thành viên của gia đình chúng ta: “Tất cả những người được công chính hóa nhờ đức tin trong phép rửa đều được kết hợp vào Đức Kitô; vì thế họ có quyền được gọi là Kitô hữu và với lý do chính đáng họ được con cái của Giáo Hội Công Giáo chấp nhận là anh chị em” (Sắc lệnh về Đại Kết, số 3). Để hiểu được hai tuyên bố này, hãy nhìn vào dân Thiên Chúa với quan điểm, góc nhìn của Cha trên trời và mong muốn của Người dành cho tất cả con cái Người.
Thiên Chúa Kêu Gọi Con Cái của Người Nên Một. Hãy xem Chúa Ba Ngôi – làm sao Chúa Cha và Chúa Con yêu nhau quá nhiều đến đến nỗi các ngài đã tuôn đổ, hiến dâng toàn bộ bản thể cho nhau. Sự tuôn đổ tình yêu này là Ngôi Vị của Chúa Thánh Thần – Thiên Chúa trọn vẹn, đích thực. Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần hiệp nhất cách hoàn hảo trong tình yêu. Các Ngài không chỉ đơn thuần đồng thuận với nhau; các Ngài còn nên một với nhau.
Chính tình yêu này mà có công trình sáng tạo, mời gọi con người hưởng nếm tình yêu của Thiên Chúa và hiệp nhất trong Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa đã tạo dựng nên tất cả chúng ta theo hình ảnh giống như Người. Mỗi người nam và nữ đều được tạo dựng là một người con của Thiên Chúa duy nhất, có khả năng nhận biết Người cách thân tình (x. Gr 31,3). Là những người con của Chúa Cha, chúng ta có thể được ban tràn đầy sự sống của Người, để sống với nhau như anh chị em trong tình yêu và sự hòa thuận. Hãy tưởng tượng một thế giới trong đó không có hận thù, không có phân biệt chủng tộc, không có chiến tranh và không có bất công. Đây là kế hoạch và mong muốn lớn lao của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Sự xuất hiện của tội lỗi dường như đe dọa kế hoạch hoàn hảo này. Vì chúng ta đã khước từ ý muốn của Thiên Chúa, nên lịch sử con người đã trở nên đầy dẫy những chia rẽ và cay đắng, nghi ngờ và hận thù. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã không từ bỏ mong muốn của Người dành cho chúng ta. Luôn trung thành với con cái yêu dấu của mình, Người đã không ngừng làm việc qua dòng lịch sử, tìm cách phục hồi chúng ta về cho chính Người và cho nhau.
Dân Ítraen là nền tảng của sự phục hồi này. Thiên Chúa đã chọn các con cháu của Ápraham và Sara làm tài sản đặc biệt của Người và hình thành họ qua một giai đoạn dài nhờ công việc của các tôi tớ như Môsê, Giêrêmia và Étra. Cuối cùng, Người đã sai Con Một Người là Chúa Giêsu, để giải thoát tất cả chúng ta khỏi nỗi đau đớn của tội lỗi và sự chia cách, đồng thời ban cho chúng ta có khả năng để yêu thương nhau như giáo hội của Người.
Chúa Giêsu đã đến để khởi sự một vương quốc không có sự chia rẽ, nơi mà chúng ta sẽ thờ phượng Thiên Chúa trong sự hiệp nhất chân thật: “Giờ đã đến và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,23). Chúa Giêsu đã nói những lời này với người phụ nữ Samaria, một người có đời sống luân lý đáng nghi ngờ, có tôn giáo pha trộn giữa Do Thái và các nghi lễ của dân ngoại – đã bị các anh em Do Thái của Chúa Giêsu coi thường. Tuy nhiên, trong tình yêu, Chúa Giêsu đã bỏ qua những cản trở này và Người đã chạm đến tâm hồn chị, Người cho chị một kinh nghiệm sống động về Tin Mừng.
Khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên giáo hội trong ngày Lễ Ngũ Tuần, các tín hữu đầu tiên đã lãnh nhận quyền năng và tình yêu đến nỗi họ đã vượt qua sự chia rẽ lâu đời giữa người Do Thái và Dân Ngoại. Nhờ quyền năng của Thánh Thần, Công đồng Giêrusalem đã có thể thiết lập một phương pháp hướng đến sự hiệp nhất mà những nỗ lực của con người dường như không thể đạt được (x. Cv 15,1-35). Tương tự, trong thời đại của chúng ta, Công đồng Vaticanô II, được thôi thúc bởi cùng một Thánh Thần, đã kêu gọi sự hiệp nhất giữa tất cả các Kitô hữu: “Việc phục hồi sự hiệp nhất giữa tất cả các Kitô hữu là một trong những mối quan tâm chính yếu của Công đồng Vaticanô II” (Sắc lệnh về Đại Kết, số 1).
Sự Hiệp Nhất nhờ Thần Khí. Thế kỷ của chúng ta minh chứng cho một công trình đầy sức mạnh mà Chúa Thánh Thần đang thu hút dân Thiên Chúa để được hiệp nhất trong tình yêu của họ dành cho Chúa Giêsu. Trước đây chưa bao giờ có nhiều cuộc đối thoại về học thuật và thần học hướng đến sự hiệp nhất Kitô hữu như thế. Chưa bao giờ có một thế kỷ kể từ cuộc Cải Cách các Kitô hữu thuộc mọi ơn gọi đều thường xuyên đến với nhau để thờ phượng Đức Chúa và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.
Chúa Thánh Thần càng sống động và chủ động trong tầm hồn dân Thiên Chúa, lấp đầy chúng ta bằng tình yêu của Chúa Kitô, chúng ta sẽ càng mong muốn yêu thương những người xung quanh chúng ta, ngay cả những người mà chúng ta cố tình phớt lờ hoặc thậm chí tránh né. Chúng ta sẽ yêu thương họ vì Chúa Giêsu, Đấng yêu thương tất cả chúng ta, đang sống trong chúng ta. Chúng ta càng ở với Chúa Giêsu trong tình yêu, chúng ta sẽ càng yêu thương nhau.
Hơn bất cứ điều gì khác, lời kêu gọi hiệp nhất là lời kêu gọi chú tâm sâu sắc hơn tới Chúa Thánh Thần, là lời kêu gọi tới cuộc hoán cải sâu sắc hơn. Như các Giáo Phụ của Công đồng đã dạy: “Không thể có cuộc đại kết xứng đáng với tên gọi của nó mà không có sự hoán cải nội tâm. … Vì chúng ta càng hiệp nhất mật thiết với Chúa Cha, với Ngôi Lời và với Chúa Thánh Thần, chúng ta càng có khả năng lớn lên cách dễ dàng và sâu sắc hơn trong tình yêu thương nhau” (Sắc lệnh Đại Kết, số 7).
Chúng Ta Có Thể Làm Gì? Trong mắt Thiên Chúa, mỗi người chúng ta đóng một vai trò quan trọng: “Chính Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong những người tin, thấm nhập và cai quản toàn thể Giáo Hội, Đấng thực hiện sự hiệp thông tuyệt vời giữa các tín hữu và gắn kết họ cách mật thiết với nhau trong Chúa Kitô” (Sắc Lệnh Đại Kết, số 2). Không ai là quá nhỏ bé để đảm nhận một nhiệm vụ như thế.
Chúng ta có thể tham dự cách thực tế vào công việc của Chúa Thánh Thần không chỉ để hiệp nhất với thân mình bị chia rẽ của Chúa Kitô, nhưng còn để mang sức mạnh và niềm hy vọng của Tin Mừng đến cho toàn thể thế giới. Chúng tôi gợi ý một số cách dưới dây như những điểm khởi đầu tốt đẹp:
❈ Mỗi buổi sáng, bạn hãy dâng hiến bản thân và gia đình của bạn cho Chúa. Hãy xin tình yêu của Chúa thống trị, làm chủ con người bạn.
❈ Cuối ngày, bạn hãy cầu xin Chúa Thánh Thần giúp bạn xét lại thái độ của tâm hồn bạn đối với những người mà bạn tiếp xúc: “Làm cách nào tôi có thể yêu thương cách trọn vẹn hơn như Chúa Giêsu yêu?”
❈ Hãy học hỏi, tìm hiểu về những cách mà Thiên Chúa đã làm việc trong các giáo hội và các truyền thống Kitô giáo khác. Hãy đọc một cuốn sách về một Kitô hữu gương mẫu, chẳng hạn như John Wesley, Corrie Ten Boom, hoặc Dietrich Bonhoeffer.
❈ Trong suốt Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Sự Hiệp Nhất Kitô Hữu (từ ngày 18-25 tháng giêng), bạn hãy cầu xin Chúa chúc lành cho mỗi Kitô hữu trong mỗi Giáo hội, để tất cả chúng ta cảm nhận tình yêu của Cha trên trời cách trọn vẹn hơn. Sức mạnh vô biên có thể tuôn chảy từ lời cầu nguyện như thế!
❈ Cuối cùng, như các Giáo Phụ của Công Đồng đã tuyên bố: “Hãy để cho lòng bác ái thống trị trong tất cả mọi sự” (Sắc Lệnh về Đại Kết, số 4). Hãy để cho tình yêu thống trị hơn là phán xét. Hãy để cho niềm vui và tình bạn xua tan nỗi sợ hãi trong tâm hồn chúng ta.
“Ôi lạy Chúa, xin cho chúng con hiệp nhất nên một như Chúa và Chúa Cha là một!”
Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương
Theo Word Among Us
Nguồn: https://daminhtamhiep.net