
Miền Truyền Giáo đáng thương và thiết thân của chúng tôi xem ra đã bị triệt tiêu và mãi mãi, những người lương nói thế, nhiều người Âu cũng lặp lại như thế: Đạo Công giáo đã chết tại Miền Bắc Đàng Trong, chắc sẽ không bao giờ sống lại đâu! Mặc dầu đau khổ, vị Giám mục và các thừa sai vẫn giữ một niền hy vọng bất khuất vào tương lai, và ngay khi bão táp lặng yên, họ lại lo làm việc để thể hiện điều này, Đức Cha Caspar cho tìm những người Kitô hữu thoát khỏi gươm đao của những người bách hại, để đưa họ trở về trong các làng của họ và xây dựng lại các xứ đạo.
Nhưng lấy đâu ra ngân khoản để giúp những người khốn khổ này làm lại nhà cửa, dựng lại nhà nguyện? Các cấp chính quyền tây cũng như Việt từ chối giúp đỡ họ. Nhưng những tiếng kêu van thất vọng của họ lại được nghe ở trời Âu. Nhờ của cải trợ giúp từ những tấm lòng bác ái quảng đại, các làng mạc đã được xây dựng lại và những nguyện đường được dựng lên. Ở nơi nào gươm đao và lửa cháy chỉ để lại tử thi và tro tàn, nay lại mọc lên những ngôi thánh đường đẹp đẽ giữa những ngôi làng mà dân cư mỗi năm càng tăng thêm .
Than ôi! những biến cố kinh hoàng đó không phải đánh dấu sự chấm dứt các thử thách của Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong.
Những thiệt hại do nhiều trận bão rất dữ dội để lại cảnh hoang tàn trong Giáo phận. Hai trong các trận bão này đã ghi dấu kỷ niệm đáng buồn nhất. Trận đầu xảy ra vào các ngày 15 và 16 tháng 10 năm 1897, khắp cả giáo phận đều phải chịu đựng và cảnh đói kém lan tràn, nạn nhân đếm được hàng ngàn.
Trận thứ hai vào ngày 11/9/1904, chỉ thử thách tỉnh Huế, nhưng những thiệt hại gây nên thật kinh khủng; nhà của những người Âu, đền đài vua chúa, nhà thờ, chùa chiền, đều bị phá huỷ, hoàn toàn hay một phần. Còn những nơi ở của dân chúng hiếm thấy nhà nào thoát khỏi tai ương, sức gió lớn đến nỗi lật đổ và quăng xuống sông 4 trong 6 vài của cây cầu ở Huế (Trường Tiền) nối khu phố tây với khu phố Việt. Thế mà mỗi vài của chiếc cầu này dài 75 mét do hãng Creusot xây dựng.


Trong các nạn nhân có cha Dangelzer, cha Chính Miền Truyền Giáo và bạn đồng môn của Đức Cha Caspar tại trường Obernai. Trong hoàn cảnh đó, vị Giám mục thân yêu của chúng ta hối hả cứu giúp những người bị nạn và sự can thiệp của ngài, với sự trợ lực rất mạnh mẽ của hàng giáo sĩ, đã cứu mạng sống cho hàng ngàn người bất hạnh và giúp xây dựng hoặc tạm thời sửa chữa lại các nhà thờ hoặc các nhà cửa bị tàn phá hoặc hư hại.
Khi đọc bản tóm lược các thử thách này liên tục xãy đến cho Miền Truyền Giáo Bắc Đàng Trong trong gần một phần tư thế kỷ, chắc người ta có thể tự hỏi phải chăng cả thời giờ và năng lực của Đức Cha Caspar chỉ dùng để sửa chữa lại những đổ nát mà thôi?! Không, con người khiêm tốn, trầm lặng, hầu như luôn ở trong phòng làm việc này, lại dẫn đầu các bước tiến thật quan trọng của Công giáo trong triều giám mục của ngài.
Điều đầu tiên đã lôi kéo sự quan tâm của ngài, đó là sự thiếu thốn, nếu không nói là hoàn toàn thiếu những ngân khoản cần thiết cho hoạt động của giáo phận được tốt đẹp. Để chữa trị tình trạng thiếu thốn này và để chuẩn bị bao nhiêu có thể cho những bất định trong tương lai, nhờ ý chí và kiên trì, ngài đã thành công lo cho Miền Truyền Giáo có được một số ruộng, với thu nhập còn xa mới đủ cho việc duy trì tất cả các công trình, nhưng ít nữa cũng bảo đảm một phần lớn cho các chủng viện được tồn tại.

Khi ngài đến, giáo phận chỉ có một Tiểu chủng viện đang thời kỳ phôi thai, với số chủng sinh khi nhiều khi ít và thời gian lưu trú khi vắn khi dài tuỳ theo ngân khoản. Nhờ những biện pháp của Đức Cha Caspar và sự trợ lực của các thừa sai phụ trách cơ sở này, mọi việc sớm đi vào trong một đường lối đều đặn, và số chủng sinh mỗi năm đều tăng, cuối cùng đạt tới con số 155. Nếu hoàn cảnh ít thuận lợi đã làm cho con số này hơi giảm sút, thì kỷ luật và việc học lại ngày càng tốt hơn, và hiện nay Tiểu chủng viện An-Ninh ở trong tình trạng rất thoả mãn .
Đại chủng viện mang ơn Đức Cha Caspar về sự tồn tại và thiết lập bền vững tại Phú Xuân, cách tường thành Huế không đầy một cây số, trong một vị trí tuyệt đẹp. Từ cơ sở này, ngài rất lấy làm an ủi thấy 50 linh mục bản xứ ra trường mà 38 vị đang còn sống.

(Còn tiếp)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ