Đức Cha Alexandre Paul Marie CHABANON (GIÁO) (1873-1936) (tiếp theo)

14/10/2026

Việc thiết lập “Trường Thiên Hựu” ở Huế làm trường dạy cấp hai cổ điển (enseignement secondaire classique) là do nhiệt tâm và hoạt động của Đức Cha Allys, nhưng chính vị Đại diện Tông Toà mới phải lo điều hành việc xây cất cơ sở đồ sộ mà hiện nay gần 200 trẻ tiếp nhận nền giáo dục trong một môi trường công giáo.

Khi được nâng lên hàng giám mục, như chúng tôi đã nói, Đức Cha Chabanon cảm thấy sức lực mình giảm sút. Người ta đã khuyên ngài một cách vô ích một cuộc trở về Pháp hoặc ít nữa một kỳ nghỉ lâu ngày. Công việc dai dẳng mà ngài vẫn tiếp tục dấn thân vào không ngơi nghỉ, cũng như những lo âu lớn lao của trách vụ giám mục nhanh chóng dẫn đến sự liệt lào toàn cơ thể.

Trong năm 1935 và nhất là đầu năm 1936, người ta thấy ngài xuống sức rất nhanh và chính ngài thường cẩm thấy đuối sức. Người ta kính cẩn thúc đẩy ngài về nghỉ tại quê nhà, chính Đức Khâm sứ Dreyer cũng đã nhiều lần hết sức khuyên ngài như thế, nhưng không ai thành công trong việc thuyết phục ngài điều đó.

Xem ra vị Giám mục đáng kính nhắm đến một lý tưởng anh hùng, là được chết trong Miền Truyền Giáo mà không bao giờ trở lại Pháp. Cuối cùng trong khoảng tháng 3 năm 1936, bác sĩ công bố rõ ràng rằng sức khoẻ của ngài phải bị tổn thương nặng nề, nếu ngài không trở về Âu châu sớm nhất có thể. Đức Cha Chabanon đành phải chết trong tâm hồn. Rủi thay, đã quá chậm và chính ngài cũng biết rõ điều đó. Ngài nói: ”Tôi sẽ không về tới Marseille” !

Mặc dầu quá sức mệt, ngài vẫn tiếp tục làm việc cho đến khuya trước ngày lên đường đi Pháp. Ngày thứ Năm Tuần Thánh, ngài đã muốn cử hành nghi thức làm phép Dầu Thánh, nhưng sức khoẻ không cho phép, cuối nghi thức dài, ngài đã phải dừng thánh lễ ngay sau khi rước lễ. Ngày lễ Phục Sinh, ngài lên bàn thờ lần cuối, bị buộc phải dừng lại và ngồi xuống sau kinh Lạy Cha, tuy nhiên ngài đã có thể hoàn tất điều cần thiết của Thánh Lễ.

Ngày 24 tháng tư, ngài rời Huế, và lên tàu tại Tourane trên chiếc “Cap-Varella” cùng với cha Fasseaux. Đức Khâm Sứ Toà Thánh đã yêu thương dành xe hơi Toà Khâm Sứ để chở ngài đi và cha Bresson thư ký Toà Khâm Sứ đưa ngài đến tận bến cảng cùng với cha chính Lemasle và cha Roux. Ở đó, họ gặp Đức Cha Tardieu từ Qui Nhơn ra để bày tỏ mối thiện cảm thân tình và giã từ người anh em đồng hương và là bạn thân từ thời thơ ấu.

Cho dến Colombo, cuộc hành trình chắng có gì đặc biệt: tình trạng của người bệnh cao quí này vẫn cứ như thế. Nhưng một ít lâu trước khi đến Djibouti, ngài càng yếu dần và bị tiêu chảy (dysenterie). Ngài chuẩn bị giờ chết và lãnh các bí tích cuối cùng.

Đức Cha đến Marseille ngày 29 tháng 5 trong tình trạng kiệt sức, đến độ xe cứu thương phải tới tận bến cảng đón ngài để đưa về thẳng bệnh viện Saint-Joseph. Các bác sĩ chỉ có thể thấy mình đang đứng trước một cơ thể rã rời, không hy vọng cứu chữa .

Người bệnh cảm thấy sự sống cất khỏi ngài từ từ, chuẩn bị một cách gương mẫu cho tiếng gọi của Chúa. Những cuộc viếng thăm của anh em Sở Quản lý (Procure) mang lại niềm an ủi cho những ngày cuối đời của ngài, cũng như của một bạn đồng lớp ở chủng viện Hội Thừa Sai Hải Ngoại và đang là một linh mục xuất sắc trong giáo phận Marseille. Đức cha Chabanon biết rằng người thỉnh sinh  xưa kia này vẫn giữ con tim truyền giáo sống động. Ngài nói : ”Này cha Kinh sĩ, cha đã luôn là người bạn của những nhà truyền giáo, hãy giữ mãi như thế cho đến cùng”.

Vị linh mục đến thăm này đã cảm động sâu xa  khi thấy lại ngài sau 40 năm, một vị thừa sai dũmg cảm kiệt lực đến mức này sau một nửa thế kỷ làm việc không ngơi nghỉ và đã không thể cầm được nước mắt khi nghe những lời đầy xúc động đó.

Người bệnh đáng kính đã có niềm vui lớn trong những ngày cuối đời là gặp được bên giường bệnh một trong những người cháu gái của ngài, nữ tu dòng Đa Minh và một người cháu trai, thầy Vital, sư huynh Lasan. Cả hai chứng kiến hơi thở cuối cùng của ngài sáng 4 tháng 6.

Ba người anh em của chúng tôi, đang phục vụ tại bệnh viện Saint-Joseph cũng ở bên cạnh ngài: cha Pessein thuộc dưỡng đường Nilgiris, cha Colin, thuộc Coimbatore và cha Bélet thuộc Malacca. Khoảng 10 giờ, người ta báo cho cha Colin rằng Đức Cha Chabanon nguy kịch. Cha Colin  nói vói người hấp hối chuẩn bị  lãnh phép giải tội lần cuối.  Bấy giờ Vị Giám mục đáng kính đưa tay lên trong một cố gắng cuối cùng để làm dấu thánh giá và thở hơi cuối cùng trong an bình. Ngài vẫn giữ được sự minh mẫn cho đến  phút cuối. Ngài hưởng thọ 63 tuổi và trải qua 40 năm linh mục và  tông đồ.

Việc chôn cất đã thực hiện tại Marseille theo ước mong của Đức Cha quá cố là người đã muốn ra đi trong khiêm tốn và không rộn ràng, cũng như ngài đã luôn sống như thế.

Thánh lễ an táng được cha Sibers, Bề trên dưỡng đường Montbeton cử hành, nghi thức từ biệt lần cuối do Đức Cha Dubourg, giám mục Marseille, chính ngài chủ toạ tang lễ. Tham dự nghi lễ còn có các cha, các thầy và các nữ tu của Sở Quản lý (Procure), cũng như đại diện của các Hội dòng Thừa sai có nhà tại Marseille.

Cha Ferrières, Đại diện Miền Truyền Giáo Huế tại Hội đồng Trung ương, đưa xác ra nghĩa địa. Người quá cố an nghỉ ở đó trong hầm mộ các thừa sai của Hội, bên cạnh Đức Cha Dominique Lefèbvre, Giám mục Đại Diện Tông Toà Sài Gòn, và cha Léculier, thừa sai Miền Huế.

Ngay khi tin báo về cái chết của ngài đến Huế, hai lễ hát trọng thể đã được tổ chức: một lễ đặc biệt dành cho kiều bào Pháp tại nhà thờ Phanxicô Xavie ngày 9 tháng 6 và lễ kia ngày hôm sau tại nhà thờ Chính toà Phủ Cam. Cha Lemasle Bề trên Miền Truyền Giáo cử hành cả hai lễ với sự phụ giúp của Đại chủng viện. Tất cả các linh mục đều tham dự như là bổn phận đạo đức của mình.

Tại giáo xứ Phanxicô Xavie, người ta thấy ở hàng đầu có các Đại diện chính thức của chính quyền Bảo hộ và của Triều đình Việt Nam.

Điều Đức cha Chabanon tiếc nhất  và cả Giáo phận cùng chia sẻ ,đó là không được chết trong Miền Truyền Giáo của ngài, giữa đoàn con cái, các linh mục và giáo dân của mình.

Đức cha Chabanon đã để lại cho chúng ta một tấm gương đẹp về đời linh mục thừa sai. Ngài có hồn tông đồ: ở mọi nơi, công cuộc mục vụ ngài thực hiện đều in dấu một lòng nhiệt thành lớn lao cho việc thánh hoá các lnh hồn. Phải chăng đó cũng là phản ảnh các tâm tình nội tâm từ câu châm ngôn Giám mục của ngài: “Caritas Christi urget nos” (Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta), nhưng xem ra ngài cũng đã có một câu khác rất mật thiết, làm  luật sống cho cả đời ngài: ”Ama nesciri et pro nihilo reputari” (Hãy thích không được biết đến và được cho chẳng đáng là gì).

Quả thực Đức cha Chabanon đã luôn yêu thích đời sống âm thầm, hết lòng chăm chú chu toàn bổn phận hằng ngày, một người làm việc hăng say, luôn tiện tặn thời giờ, làm nhiều việc lành không rộn ràng.

Dưới vẻ bên ngoài rất dè dặt, mà có lẽ người ta xem như lạnh nhạt, ngài giấu ẩn một trái tim vàng. Vì ngài có chừng mực trong lời nói và ít phô bày ra, người ta không hề đoán được lòng nhân lành sâu xa của tâm hồn ngài, ngoài một sự tiếp cận chân thành và đầy tâm tình, cũng như trong những cách thức tế nhị ngài dùng, tuỳ trường hợp đối với anh em đồng sự và các người thuộc quyền ngài và trong các thư từ mọi sự được ngài diển tả cách dể thương chân tình.

Ngài sở hữu ở một mức độ cao các tính cách quí báu mà người ta rất thích gặp được nơi một đồng sự và còn hơn cả nơi một Bề trên. Không bao giờ người ta nghe ngài nói điều xấu nhỏ mọn nào về một ai, sự kiên nhẫn của ngài không hề vơi cạn và sự tế nhị kín đáo của ngài như là châm ngôn .

Suy tư nhiều, ngài là một con người chỉ bảo đàng lành, cho ý kiến rõ ràng, đích xác và phán đoán tốt, người ta không bao giờ thấy đam mê ảnh hưởng nơi ngài.

Đức Khâm Sứ đánh giá cao ngài và chính ngài cũng có một sự kính trọng đầy yêu mến và tin tưởng đối với Đức Khâm Sứ. Vì thế, trong những bức điện phân ưu, có điện văn của Đức Khâm Sứ Dreyer từ Paris gửi cho Miền Truyền Giáo Huế để bày tỏ sự xúc động sâu xa của ngài .

Là linh mục và Giám mục đơn sơ tốt lành, với một năng lực bình lặng, ngài được người ta thương mến trong mọi nhiệm sở ngài đảm trách và người ta luôn luyến tiếc khi thấy ngài phải ra đi: Đó là một người Cha được mọi người thương mến và các linh mục Miền Truyền Giáo khóc thương ngài sớm khuất bóng!

A

(Dịch từ nguyên văn Pháp ngữ trong Archives des Missions Étrangères de Paris, No 2239, Pays : Vietnam).

                 Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ