Các đức tính tốt lành của Đức Cha Allys, nét duyên dáng khi ngài nói chuyện, vẽ đơn sơ dễ mến của ngài, lòng tận tâm hoàn toàn của ngài cho người Việt cũng như người đồng hương, những việc phục vụ ngài đã thực hiện cho hai chính phủ trong nhiều trường hợp khác nhau làm cho các cấp chính quyền Việt Nam và nước Pháp đều được lôi cuốn đến với ngài.

Theo đề nghị của Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraut, Đức Cha Allys được truy tặng Bắc Đẩu Bội Tinh (Chevalier de la Légion d’honneur) do sắc lệnh ký ngày 5 tháng 2 năm 1921.

Ngày 14 tháng 7 cùng năm đó, ông Pierre Pasquier, hồi đó làm Khâm Sứ Pháp tại Việt Nam, long trọng gắn huy chương này cho ngài trước mặt đội quân danh dự, với sự hiện diện của Hoàng Đế Việt Nam và cả Triều đình, tại cửa Ngọ Môn ngay chính nơi mà 90 năm về trước, vào ngày 30 tháng 11 năm 1835 Chân Phước Joseph Marchand bị kết án khổ hình bá đao đã được dẫn đến trước mặt vua Minh Mạng , rồi đi đến ngọn đồi gần kinh thành để chịu thi hành án vài giờ sau đó.

Cũng chính năm 1921 này, ngày 16 tháng tư, vua Khải Định đã trao tặng ngài huy chương Kim Khánh ngoại hạng (hors classe), một sự tưởng thưởng cao nhất của vương triều cho những nhân vật cao cấp.
Bốn năm sau, vào năm 1925, dịp lễ mừng 50 năm linh mục, vị Giám mục đáng kính đã được đặt làm Đại Quan Nam Long Bội Tinh (Grand Officier du Dragon d’Annam).
Đức Thánh Cha trao tặng ngài tước hiệu “Assistant au Trône pontifical” (Phụ tá Ngai Toà Thánh).

Cuộc lễ mừng Kim Khánh thật rực rỡ. Cảnh ”cor unum et anima una” (một lòng một ý) của sách Tông Đồ Công Vụ được thể hiện giữa những người Pháp lẫn người Việt mang lại cho cuộc lễ Kim Khánh những dấu chỉ quí mến rất xứng với công đức của ngài.
Khâm Sứ Pasquier nhân dịp này đã phát biểu rất hay để diển tả diện mạo đích thực của ngài. Ông nói:
“Khi Chính phủ Cộng Hoà gắn vào chiếc áo tím của ngài chấm đỏ của Bắc Đẩu Bội Tinh là muốn tưởng thưởng trong ngài những đức tính mạnh mẽ và vững chắc ở nơi chúng ta (de chez nous), Những đức tính ngài đang mang theo phong cách Pháp với một lòng gan dạ không bao giờ để mất đi nụ cười, với một sự hăng hái đi đến chỗ táo bạo (pétulence), với một sự lạc quan làm cháy lên các ngọn lửa còn chập chờn…”
Trong bài tường thuật các cuộc lễ này được đăng trong tờ báo của Hội Thừa Sai Hải Ngoại tháng 12 năm 1925, người viết đã biểu lộ ước mong Miền Truyền Giáo có thể cử hành lễ mừng Ngân khánh Giám Mục của vị Bề Trên đáng kính này vào năm 1935. Ước mong này đã được thực hiện, nhưng lúc đó Đức Cha Allys không còn lãnh đạo Giáo phận nữa. Hầu như bị mù, ngài từ chức Đại Diện Tông Toà vào năm 1931 và trao quyền cai quản giáo phận cho Giám mục phó là Đức Cha Chabanon.
Tình trạng mù loà này thật nặng nhọc cho ngài như ngài nói:”Chúa nhân lành không thể gửi cho tôi một thập giá nào nặng hơn”; nhưng ngài vác lấy cách dũng cảm, vui vẻ, và lòng vẫn nhẹ nhàng.

Trong 5 năm hưu dưỡng, ngài đã là một tấm gương đạo đức sâu xa cho tất cả các linh mục Miền Truyền Giáo Huế. Cũng như trong quá khứ, cửa phòng ngài luôn rộng mở cho mọi người viếng thăm. Giờ rảnh rỗi, ngài thích đi đến nguyện đường để thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể và trình bày với Chúa những nhu cầu của Hội Thừa Sai và của cả Miền Truyền Giáo.
Vào đầu tháng tư năm 1936, Đức Cha đáng kính có vẽ mệt hơn thường và cuộc lữ hành trần thế của ngài hầu như sắp phải kết thúc. Thế nên, thứ Năm Tuần Thánh, ngày 09 tháng tư, Đức Cha Chabanon ban phép Xức Dầu Thánh cho ngài. Cuối các kinh nguyện, người bệnh rất đáng kính đã xin lỗi tất cả các linh mục về nhiều lầm lỗi mình đã xúc phạm đến họ.
Rồi 14 ngày sau, vào buổi sáng ngày mất, ngài được niềm an ủi nhận ra người bạn cũ của ngài là Đức Cha Marcou và còn có thể chuyện vãn giây lát với nhau. Năm giờ sau, vào lúc 11 giờ, ngài nhẹ nhàng trủt hơi thở cuối cùng, bên cạnh có Đức nguyên Giám mục Phát Diệm, cha Chính Lemasle và cha Etchebarne, Quản lý Miền Truyền Giáo. Còn Đức Cha Chabanon bị bệnh nặng đã lên đường đi Tourane (Đà Nẳng) ngày 24 để đáp tàu “Cap Varella” và đành phải hy sinh không dự được lễ an táng vị tiền nhiệm.
Thánh lễ an táng được cử hành ngày thứ hai 27 tháng 4. Đơn sơ như ngài đã yêu cầu: “không vòng hoa, không diễn từ, không đội chào danh dự“. Nhưng sự hiện diện của 5 vị Giám mục Marcou, Gouin, Tardieu, Jannin và Cẩn, nhiều linh mục thừa sai và bản xứ, mà nhiều vị đến từ các Giáo phận khác của Việt Nam; sự hiện diện của các cấp lãnh đạo dân sự và quân sự, của tất cả các bộ trưởng Triều đình Huế và nhiều nhân vật Việt Nam mang lại cho nghi lễ một dấu ấn hết sức long trọng và trầm lắng, thực xứng với “vị Giám mục lớn lao và người công dân Pháp dũng cảm, mà cả Đông Dương nghiêng mình cung kính tưởng nhớ ” như lời Toàn Quyền Đông Dương Robin đã viết cho vị Bề Trên Miền Truyền Giáo.
Di hài của ngài nay an nghỉ trong một nghĩa trang khiêm tốn, nấp bóng nhà thờ chính toà Phủ Cam đã được ngài xây dựng, ở giữa cộng đoàn giáo dân mà ngài đã thương mến biết bao và ngày nào họ cũng đến bên mộ ngài để cầu nguyện cho linh hồn ngài được nghỉ yên và cũng để xin ơn lành với Đấng mà họ sùng kính như một vị thánh.


(Dịch từ nguyên văn Pháp ngữ trong Archives des Missions Etrangères de Paris,
No 1272, Pays: Vietnam)
Lm. Stanislaô Nguyễn Đức Vệ